Mục tiêu của thí nghiệm nhằm xác định hàm lượng năng lượng, axit amin tiêu hóa hồi tràng chuẩn ăn vào hàng ngày cho lợn đực làm việc trong điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam. Thí nghiệm với 27 đực làm việc, được thực hiện theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn 2 yếu tố, với 3 mức năng lượng trao đổi (3.000, 3.100, 3.200 kcal/kg) và 3 mức lysine tiêu hóa hồi tràng chuẩn (0,70; 0,80; 0,90%). Bố trí 1 lợn đực/ô chuồng, mỗi ô chuồng là một lần lặp lại, 3 ô/nghiệm thức × 9 nghiệm thức. Protein thô trong khẩu phần được thiết lập ở mức 13,5%; Tỷ lệ methionine+cystine, threonine, tryptophan tiêu hóa hồi tràng so với lysine tương ứng là 70; 70; 20% ở tất cả các nghiệm thức. Kết quả chỉ ra rằng, chất lượng tinh trùng của lợn đực được tối ưu khi năng lượng trao đổi và lysine tiêu hóa hồi tràng ăn vào tương ứng là 9.134 kcal/con/ngày và 23,58 g/con/ngày
Chăn nuôi đực giống là một trong những khâu quan trọng nhất, quyết định năng suất và chất lượng đàn lợn sau này. Bên cạnh những tiến bộ về di truyền chọn giống, chế độ dinh dưỡng cũng đóng góp không nhỏ vào quá trình tối ưu hóa các tiềm năng sản xuất ở lợn đực. Giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần ăn ảnh hưởng đến tính ham của lợn, quá trình sản xuất tinh trùng, chất lượng tinh dịch và tuổi thọ khai thác. Nhiều trang trại chưa chú ý tới nhu cầu dinh dưỡng của lợn đực, chế độ cho ăn chưa đáp ứng đủ một số yêu cầu dinh dưỡng cần thiết, từ đó chất lượng tinh trùng chưa cao, chưa khai thác được tối đa tiềm năng di truyền. Cũng giống như các đối tượng lợn khác, năng lượng và axit amin là dưỡng chất quan trọng hàng đầu trong khẩu phần lợn đực làm việc. Tokach và cs. (2009) cho biết nhu cầu năng lượng của đực giống từ sáu tháng tuổi dao động từ 8.700-9.000 kcal ME/ngày. PIC (2016) cũng chỉ ra rằng lợn đực làm việc cần 8.600-9.500 kcal ME/ ngày và lượng thức ăn cho 1 ngày cần cung cấp từ 2,7-3,3 kg/con. Theo Shannon (2011), lợn đực giống trưởng thành cần 0,85% lysine trong khẩu phần, trong khi công bố của NRC (2012), nhu cầu dinh dưỡng cho lợn đực giống là 3.300 kcal ME/kg; 13% protein thô; 0,6% lysine tiêu hóa hồi tràng. Tương tự, theo khuyến cáo của Mark và Samuel (2013) lợn đực trưởng thành nên cho ăn 2,7 kg/con/ngày với 3.300 kcal/kg năng lượng trao đổi. Nghiên cứu được thực hiện để xác định hàm lượng năng lượng và axit amin tiêu hóa hồi tràng chuẩn, ăn vào hàng ngày cho lợn đực làm việc trong điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam.
Vật liệu nghiên cứu Lợn sử dụng cho thí nghiệm là lợn đực làm việc giống Duroc. Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thời gian: Từ ngày 4/5/2019 đến ngày 30/6/2019. Địa điểm: Thí nghiệm được thực hiện tại trại lợn giống Bình Minh (Xã Bình Minh, Huyện Trảng Bom, Đồng Nai) thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi heo Bình Thắng – Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ.
Phương pháp nghiên cứu Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn 2 yếu tố (3 mức năng lượng trao đổi-Metabolizable energy-ME và 3 mức axit amin dạng tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn-Standardized ileal digestibility-SID), 9 nghiệm thức (NT): 3 x 3. Bố trí 1 đực giống/ô chuồng mỗi ô chuồng là một lần lặp lại, 3 ô/NT x 9 NT trên tổng số 27 lợn đực làm việc. Các SID axit amin thiết yếu được tính tương đối so với SID lysine (Lys) theo tỷ lệ thích hợp từ kết quả của thí nghiệm trước: “Xác định tỷ lệ thích hợp giữa các axít amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn giới hạn so với lysine trong khẩu phần lợn đực”. Protein thô trong khẩu phần được thiết lập ở mức 13,5%; Tỷ lệ SID methionine+cystine, threonine, tryptophan so với SID Lys tương ứng là 70; 70; 20% ở tất cả các nghiệm thức. Chi tiết bố trí thí nghiệm như sau:

Chỉ tiêu theo dõi: Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày; Chất lượng tinh dịch mỗi lần xuất tinh Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày: Lượng thức ăn cho ăn- lượng thức ăn dư hàng ngày Chất lượng tinh trùng: Lợn đực được khai thác tinh lúc 7h sáng hoặc 4h chiều, tần suất khai thác là 4 ngày/lần Thể tích tinh trùng: Sau khi loại bỏ keo phèn sử dụng cốc đo để biết thể tích tinh dịch sau mỗi lần xuất tinh. Hoạt lực tinh trùng: Tỷ lệ phần trăm số tinh trùng có hoạt động tiến thẳng. Lấy một giọt tinh nguyên, nhỏ lên phiến kính sạch, sau đó đậy lên lamen, đưa lên kính hiển vi và quan sát ở độ phóng đại (100 – 200), xác định tỷ lệ tinh trùng tiến thẳng. Mật độ tinh trùng: Nồng độ tinh trùng là số lượng tinh trùng trong 1ml tinh dịch, sử dựng máy đếm tinh trùng SDM1.
Xử lý số liệu
Tất cả các dữ liệu thu thập được xử lý sơ bộ bằng Excel 2013 và phân tích kết quả theo mô hình tuyến tính tổng quát (General Linear Model) trên phần mềm Minitab 17. Phép thử Tukey-Test được sử dụng để so sánh các giá trị trung bình.

Trong đó: Yij: Biến phụ thuộc hay số liệu quan sát ở mức ME i (i=3.000; 3.100 và 3.200 kcal/kg), mức SID Lys j (j = 0,70; 0,80 và 0,90%), lần lặp lại k (k=3); µ: Trung bình tổng thể; Ai: Giá trị đóng góp do ảnh hưởng của yếu tố ME ở mức độ thứ i; Bj: Giá trị đóng góp do ảnh hưởng của yếu tố SID Lys ở mức độ thứ j; (A*B)ij: Giá trị đóng góp do ảnh hưởng của yếu tố ME ở mức độ thứ i tương tác với yếu tố SID Lys ở mức độ thứ j; Eijk: Giá trị đóng góp bởi sai số ngẫu nhiên hay do ảnh hưởng của các yếu tố không xác định lên các biến phụ thuộc ở mức độ ME i; SID Lys j và lần lặp lại k.

Phân tích ảnh hưởng của từng yếu tố thí nghiệm đến số lượng ME và SID Lys ăn vào của lợn, kết quả nghiên cứu cho thấy, cả hai chỉ số này đều bị tác động mạnh trong khẩu phần. Trong khi, ME (Kcal/ngày) ăn vào hàng ngày chịu chi phối bởi yếu tố ME thì số gam SID Lys nhận được lại phụ thuộc rõ rệt vào hàm lượng SID Lys khẩu phần (P<0,001). Lượng ME ăn vào tăng tỷ lệ thuận với mật độ ME trong khẩu phần, cao nhất ở mức năng lượng 3.200 kcal/kg với trung bình là 9.396 kcal/con/ngày, tiếp đến là mức năng lượng 3.100 kcal/kg (9.105 kcal/con/ngày) và thấp nhất là trong mức 3.000 kcal/kg (8.814 kcal/con/ngày). Số gam SID Lys ăn vào tăng theo hàm lượng SID Lys khẩu phần, cao nhất là ở SID Lys 0,90%, tiếp đến là mức 0,80%, thấp nhất là ở 0,70% (tương ứng với 26,27; 23,46 và 20,62 g/con/ngày). Như vậy, khi khẩu phần ăn cho lợn đực làm việc có mật độ ME và SID Lys thấp đã làm giảm đáng kể lượng ME và SID Lys thu nhận. Xét về sự tương tác của 2 yếu tố ME và SID Lys, trong cùng mật độ năng lượng trao đổi, các tỷ lệ SID Lys khác nhau trong khẩu phần không làm ảnh hưởng đến số lượng ME ăn vào nhưng đã làm thay đổi lượng SID Lys thực tế nhận được ở lợn đực làm việc. Cụ thể, số gam SID Lys ăn vào thấp nhất ở những nghiệm thức có mức SID Lys 0,70% với lượng trung bình dao động từ 20,49-20,76 g/con/ngày, cao nhất ở nhóm nghiệm thức sử dụng 0,90% SID Lys, trung bình 26,18-26,34 g/con/ngày. Ở chiều ngược lại, ở cùng hàm lượng SID Lys, các mật độ ME khác nhau đều không ảnh hưởng đến số lượng SID Lys thu nhận nhưng đã tác động đến số kcal ME ăn vào, cao nhất ở nhóm nghiệm thức 3.200 kcalME/kg (đều trên 9.300 kcal/con/ngày), thấp nhất ở những nghiệm thức 3.000 kcalME/kg (chỉ nhận được ít hơn 8.900 kcal/con/ngày). Kết quả về khả năng sản xuất tinh của lợn đực thí nghiệm Thể tích tinh dịch của lợn trong các nghiệm thức thí nghiệm là khá cao, biến động khoảng 294 đến 300 ml/con và có khuynh hướng tăng theo hàm lượng SID lys khi năng lượng trao đổi trong khẩu phần ăn của lợn đực ở mức thấp (3.000 kcal/kg). Nếu mật độ ME cao hơn hoặc bằng 3.100 kcal thì thể tích tinh dịch thu được trung bình sau mỗi lần khai thác lại có xu hướng giảm khi mức SID lys trong khẩu phần cao hơn 0,80%. Tuy nhiên các mức tăng giảm này đều chưa có ý nghĩa về thống kê (P>0,05). Tác động của dinh dưỡng khẩu phần thể hiện rõ qua chất lượng tinh dịch, sự khác biệt có ý nghĩa đều được ghi nhận ở tất cả các chỉ tiêu (P<0,05). Sự ảnh hưởng cộng gộp từ hai nhân tố ME và SID lys trong khẩu phần đã làm thay đổi cả hoạt lực, mật độ cũng như tổng mật độ tinh trùng có hoạt lực ở đực giống. Chất lượng tinh dịch là tốt nhất ở nhóm lợn được ăn khẩu phần 3.100 kcal ME với 0,80% SID Lys (NT B2, tương ứng đạt 84,62% về hoạt lực; mật độ 340,30 triệu tinh trùng/ml và 86,02 tỷ tinh trùng có hoạt lực ở mỗi lần khai thác), thấp nhất ở những lợn có chế độ ăn chỉ 3.000 kcal ME với 0,70% SID Lys (NT A1, không đến 80,30 tỷ tinh trùng có hoạt lực ở mỗi lần khai thác). Kết quả ở Bảng 3 cũng chỉ ra, khi ME và SID Lys trong khẩu phần quá cao, đã có xu hướng làm giảm chất lượng tinh ở đực giống, sự sụt giảm nghiêm trọng khi ME và SID Lys cùng ở mức cao (NT C3). Mật độ và tổng mật độ tinh trùng có hoạt lực trung bình ở mỗi lần khai thác chỉ cao hơn ở NT A1 không đáng kể, thậm chí hoạt lực lại có xu hướng thấp hơn. Đánh giá tác động của từng nhân tố thí nghiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy, tăng hàm lượng SID Lys khẩu phần từ 0,70% lên 0,80% đã có xu hướng cải thiện tất cả các chỉ tiêu về chất lượng tinh ở lợn đực, sự gia tăng là rõ rệt nhất ở mật độ tinh trùng có trong 1 ml tinh dịch (nhiều hơn 3 triệu tinh trùng). Khi SID Lys ở mức cao (0,90%), ngoại trừ hoạt lực tinh trùng, cả mật độ và tổng mật độ tinh trùng có hoạt lực đều có khuynh hướng giảm so với ở mức 0,7%, tuy nhiên, các chênh lệch này là chưa có ý nghĩa (P>0,05). Ở yếu tố ME, mức độ ảnh hưởng chưa rõ rệt chỉ được ghi nhận ở chỉ tiêu thể tích tinh dịch (P>0,05). Chất lượng tinh dịch trung bình từ 10 lần khai thác đã bị chi phối bởi mật độ ME trong khẩu phần ăn của đực giống, sự khác biệt có ý nghĩa đã xuất hiện ngay ở chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng (P<0,01). Các chênh lệch có ý nghĩa khi tăng ME khẩu phần tăng từ 3.000 lên 3.100 kcal/kg, khi ME tăng tới 3.200 kcal/kg thì chất lượng tinh dịch không còn khác biệt so với ở 3.000 kcal/kg. So với chất lượng tinh dịch của lợn ở hai nhóm khẩu phần còn lại, các chỉ số này ở những lợn trong nhóm khẩu phần 3.100 kcal/kg ME đã cải thiện từ 1,44-1,55%; 1,26-1,47% và 3,01-3,38% tương ứng với các chỉ tiêu hoạt lực, mật độ và tổng mật độ tinh trùng có hoạt lực trung bình mỗi lần khai thác.
THẢO LUẬN CHUNG
Nhu cầu dinh dưỡng cho lợn đực làm việc rất quan trọng, dinh dưỡng không đáp ứng đủ nhu cầu sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng của tinh trùng và tăng khả năng loại thải. Chất lượng tinh trùng của lợn đực bị chi phối bởi mật độ năng lượng, và axit amin trong khẩu phần. Năng lượng và axit amin cần cung cấp đủ để đáp ứng cho các hoạt động sinh trưởng, sản xuất tinh, hoạt động sinh dục thứ cấp và vận động. Kết quả trong nghiên cứu đã phản ánh rõ tầm quan trọng của ME và SID Lys trong khẩu phần ăn hàng ngày của lợn đực làm việc. Khi thiếu hụt ME hay SID Lys đều làm giảm chất lượng tinh trùng, tuy nhiên khi ME và SID Lys ăn vào tăng cao, chất lượng tinh trùng cũng sụt giảm. Vậy cần thiết phải có một mức lý tưởng về số lượng ME và SID Lys ăn vào để cải thiện chất lượng tinh trùng. Các kết quả trong nghiên cứu này đã phần nào tương đồng với thông báo của Louis và cs. (1994a, b), khi cho lợn đực ăn 2 chế độ dinh dưỡng (năng lượng, protein) thấp và cao trong 27 tuần thì lượng tinh dịch và xuất tinh là không có sự khác biệt giữa 2 chế độ ăn. Tuy nhiên thí nghiệm cũng chỉ ra rằng khi cho đực ăn chế độ ăn nghèo lysin (6 g Lys/ngày) và đối chứng 17 g/ngày thì chế độ ăn nghèo Lys đã giảm lượng tinh dịch và giảm ham muốn cũng như giảm thời gian xuất tinh, tăng thời gian chuẩn xuất tinh ở lợn đực sau 7 tuần thí nghiệm. Ngược lại, Lys tăng mạnh cũng không cải thiện ham muốn, không có sự khác biệt khi lượng lysine thu nhận trung bình tăng từ 18 lên 31g/con/ngày (Kemp, 1988). Một nghiên cứu khác của Wilson và cs. (2002) cũng cho rằng, lượng protein và axit amin rất quan trọng đối với ham muốn tình dục, lượng tinh dịch và chất lượng tinh trùng. Trước đó, tác giả đã khẳng định, sự gia tăng Lys trong khẩu phần cho kết quả cải thiện về liều lượng tinh trùng sản xuất (Wilson, 2000). Với đực giống cao sản hiện tại, bên cạnh những cải tiến về di truyền dường như nhu cầu về axit amin và nhất là Lys cũng gia tăng. Bằng nghiên cứu của mình, Golushko và cs. (2010) đã chứng minh 0,92% Lys (0,76% Lys tiêu hóa) là cần thiết trong khẩu phần ăn hàng ngày của đực giống. Gần đây nhất Genesus (2017) cũng khuyến cáo, tỷ lệ SID Lys trong khẩu phần cho đực giống không được thấp hơn 0,75%. Những nghiên cứu trước đây cũng đã đưa ra mức độ phù hợp về năng lượng trao đổi, Subalo và cs. (2006) đã cho biết lợn đực làm việc yêu cầu mức năng lượng trao đổi từ 8.860-9270 kcal/con/ngày; Mark và Samuel (2013) cũng cho rằng, nên cho lợn đực ăn 8.910 kcal ME/con/ngày. Tương tự, các Hiệp hội hay Tập đoàn chăn nuôi lớn trên Thế giới cũng đã đưa ra khuyến cáo về ME phù hợp cho đực giống. Đầu những năm 2010 thì 3.300 kcal ME/kg thức ăn là phù hợp trong khẩu phần đực giống (NRC, 2012). Tuy nhiên do ME là nhân tố chính làm tăng giá thành khẩu phần, trong khi ME tăng cao cũng không cải thiện thêm chất lượng tinh trùng, trong công tác chăn nuôi đực giống hiện tại, với mức ăn trên dưới 3 kg/đực giống/ngày, PIC (2016) khuyến nghị 3.086 kcal ME/kg là phù hợp cho đực giống và 3.100 kcal ME/kg là tối ưu cho khẩu phần (Danbred, 2019). KẾT LUẬN Mật độ dinh dưỡng trong khẩu phần là: 3.100 kcal ME/kg và 0,8% SID Lys, tương ứng với mức ăn bình quân ngày 9.134 kcalME/con và 23,58 g SID Lys/con là phù hợp cho lợn đực làm việc.
Tạp chí Khoa học Công nghệChăn nuôi – Số 122. Tháng 4/2021



